Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc cùng chung
sống trên lãnh thổ trong đó có 53 dân tộc thiểu số. Tuy có sự khác nhau về
trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khác nhau về quy mô dân số, có những dân
tộc thiểu số trên 1 triệu người như Tày, Thái, Khmer, Mường… lại có dân tộc chỉ
có vài trăm người như Brâu, Rơmăm, Ơ Đu, Si La… nhưng mỗi dân tộc đều có bản
sắc văn hoá truyền thống với phong tục tập quán, ngôn ngữ… riêng, tạo nên sự
phong phú, đa dạng của văn hoá Việt Nam. Ngôn ngữ các dân tộc phát triển không
đồng đều, có ngôn ngữ dân tộc phát triển thành ngôn ngữ vùng như ngôn ngữ Tày,
Thái, Mường, Êđê… Có ngôn ngữ chỉ giới hạn trong phạm vi của dân tộc mình. Hiện
nay có một vài ngôn ngữ dân tộc đang có nguy cơ bị mai một. Trong 53 dân tộc thiểu
số ở Việt Nam, gần 30 dân tộc có chữ viết. Chữ viết của các dân tộc thiểu số có
2 dạng: Chữ viết cổ và chữ viết La tinh. Có 8 bộ chữ đã được xác định về pháp
lý và đưa vào dạy, học trong nhà trường phổ thông.
Đảng ta, ngay trong Văn kiện Đại hội lần thứ nhất
(3/1935) đã xác định: “Các dân tộc được dùng tiếng mẹ đẻ của mình trong sinh
hoạt chính trị, kinh tế và văn hoá của mình” (Văn kiện1, tr 481). Chủ trương
này được quán triệt xuyên suốt qua các giai đoạn cách mạng của dân tộc. Nghị
quyết Hội nghị Trung ương lần thứ năm (khoá VIII) chỉ rõ: “… Bảo tồn và phát
triển ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số. Đi đôi với việc sử dụng ngôn
ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc
thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói, chữ viết của dân
tộc mình…”. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục nêu rõ:
“Ngoài tiếng phổ thông, các dân tộc có chữ viết riêng được khuyến khích học chữ
dân tộc… dùng tiếng nói dân tộc và chữ viết của các dân tộc có chữ viết trên
phương tiện thông tin đại chúng ở vùng đồng bào dân tộc”. Quan điểm của Đảng và
Nhà nước về tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số được thể chế hoá trong
Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992. Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Các dân
tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy
những phong tục, tập quán truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình” (Điều 5).
Các bộ luật như: Luật Giáo dục, Luật Phổ cập giáo dục, Luật Báo chí, Luật Xuất
bản, Luật Tố tụng hình sự, Luật Toà án… đều ghi cụ thể về quyền sử dụng tiếng
nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số. Có thể nói Đảng, Nhà nước ta đã tôn
trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số được sử
dụng và phát triển phù hợp với truyền thống dân tộc, đáp ứng nhu cầu và nguyện
vọng của đồng bào các dân tộc và khuyến khích, giúp đỡ các dân tộc thiểu số nắm
được ngôn ngữ phổ thông (tiếng Việt và chữ Quốc ngữ) là ngôn ngữ chung của cả
nước, là phương tiện giao tiếp giữa các dân tộc, là công cụ tiếp thu văn hoá,
khoa học kỹ thuật hiện đại đa các dân tộc cùng phát triển về mọi mặt, văn minh
và tiến bộ.